Insane

Phân tích và nêu cảm nghĩ của em về bài “Chiếu dời đô“ của Lí Thái Tổ




 


Dưới đây là bài viết phân tích và nêu cảm nghĩ  về bài “Chiếu dời đô“ của Lí Thái Tổ.









Lí Công Uẩn (974-1028) quê ở Kinh Bắc, là võ tướng cao cấp của Lê Đại Hành, từng giữ chức Tả thán vệ Điện tiền chỉ huy sứ. ông là người tài trí, đức độ, kín đáo, nhiều uy vọng. Năm 1009. Lê Ngọa Triều chết, ông dược giới tăng lữ và triều thần tôn lên làm vua, tức Lí Thái Tổ dựng nên triều đại nhà Lí hơn 200 năm (1009-1225).


Nãm 1010, Lí Thái Tổ viết “Thiên đô chiếu” dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, sau đổi là Thăng Long, kinh đô của Đại Việt.


“Chiếu là lời của vua ban bỏ hiệu lệnh cho thần dân” (Dương Quảng Hàm), thuộc văn xuôi cổ, câu vãn có vế đối, ngôn từ trang nghiêm, trang trọng. “Chiếu dời đô” cùa Lí Công Uẩn là một văn kiện mang ý nghĩa lịch sử to lớn. sắp đến lễ kỷ niệm 1000 nãm Thăng Long – Hà Nôi (1010-2010), ta càng thấy rõ ý nghĩa lịch sử trọng đại của luận văn này.


Vãn bản chữ Hán chỉ có 214 chữ, bản dịch của Nguyễn Đức Vân dài 360 chữ. Là  Phần đầu “Chiếu dời đô” nói lên mục đích sâu xa, tầm quan trọng của việc dời đó là để “đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân”. Nói một cách khác, việc dời đô là một việc lớn, vừa hợp mệnh trời vừa hợp lòng dân, là để xây dụng đất nước cường thịnh, đem lại hạnh phúc, thái bình cho nhân dân.


Việc dời đô không còn là chuyện hi hữu, mà đó là những kinh nghiệm lịch sử, phàn ánh xu thế phát triển lịch sử cùa từng quốc gia, từng thời đại. Tác giả đã nêu lẽn những dẫn chứng lịch sử để thu phục nhân tâm. Chuyện ở xa là chuyện bên Tàu: “Xưa nhà Thương đến vua Bìm Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô“. Chuyện gần là ở nước ta thời nhà Đinh, nhà Lê vì chỉ “theo riêng mình, khinh thường mệnh trời… ”, cứ “đóng yên đô thành” ờ Hoa Lư nên dẫn đến thảm kịch: “triều đại không được lâu bền. số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật khônh được thích nghi”… Sử sách cho biết, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp tan 12 sứ quân, năm 968 ông lên ngôi hoàng đế thì đến nãm 979 nhà vua bị ám hại. Năm 981, Lê Hoàn lên làm vua, tuy đã đánh thắng giặc Tống xâm lược, nhưng năm 1005, Lê Đại Hành băng hà, thì các thế lực phong kiến, các hoàng tử… lại xung đột, tranh giành ngôi báu, loạn lạc kéo dài “trăm họ phải hao tổn” nhiều xương máu, tiền của. Cái chết của vua Lê Ngọa Triều năm 1009 đã chứng tỏ hai triều đại Đinh, Lê “không dược lâu bển, số vận ngẩn ngủi’. ’Hai triều đại Đinh, Lê phải đóng đô là do nhiều nguyên nhân lịch sử: nhà nước phong kiến Việt Nam chưa đủ mạnh, nạn cát cứ của các lãnh chúa hoành hành, giặc giã loạn lạc kéo dài. Do đó, các vua nhà Đinh, nhà Lê phải nuôi hổ báo ở trong nhà, phải nấu vạc (nấu ớ ngoài sân. dựa vào sông sâu núi cao, địa thế hiểm trớ vùng Hoa Lư để đóng đô và phòng thủ. Đóng dô ở Hoa Lư là một hạn chế cùa lịch sử cúa nhà Đinh, nhà Lê.


Lí Công Uẩn “đau xót” khi nghi về “vận số ngắn ngủi” của nhà Đinh, nhà Lê và cảm thấy việc dời đô là một việc cấp thiết “không thể không dời đổi”.


“Chiếu dời đô” trong phần mờ đầu, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng lịch sử là sự thật hiển nhiên, giàu sức thuyết phục lòng người. Tác giả đã lổng cảm xúc vào bài chiếu, tạo nên bao ấn tượng đẹp: “Trẫm rất đau xót về việc dó, không thế’không dời đổi”.


Cuốn “Lịch sử Việt Nam ” của Viện Sử học đã viết:



, , , , , , , , ,

Cho chúng tôi biết ý kiến của bạn?
Buổi sáng nghe được đạo lý, buổi chiều dẫu chết cũng được rồi.
Khổng Tử
Quan Tâm ?
Ngẫu Nhiên